DÂN TỘC GIA-RAI (JRAI)

Gia-rai là một trong năm dân tộc thuộc nhóm ngôn ngữ Mã Lai-Đa Đảo và là một trong những dân tộc tại chỗ thuộc khu vực Tây Nguyên (Việt Nam).

  1. Nguồn gốc lịch sử

Dân tộc Gia Rai là một trong những cư dân sớm sinh tụ ở vùng núi Tây Nguyên, lan sang một phần đất Campuchia. Trong xã hội Gia Rai xưa đã có Pơtaoia (Vua Nước) và Pơtaopui (Vua Lửa) chuyên cúng trời, đất, cầu mưa thuận gió hòa… Trước thế kỷ XI người Ê Ðê, Gia Rai được gọi chung một tên là Rang Ðêy.

Vào thế kỷ XV-XVI sử sách phong kiến Việt Nam ghi nhận danh hiệu Thủy Xá (Vua Nước), Hỏa Xá (Vua Lửa). Chỉ có người đàn ông họ Siu mới được làm vua lửa, vua nước và con gái họ Rơchom mới được quyền làm vợ hai vua. Có lẽ chữ Pơtao đồng nghĩa với Mtao của người Chăm, Tạo của người Thái và Thao của Lào, đều chỉ người thủ lĩnh.

Tên gọi khác: Giơ Ray, Chơ Ray.

Nhóm địa phương: Chor, Hđrung (gồm cả Hbau, Chor), Aráp, Mthur, Tơbuân.

2. Dân số, ngôn ngữ:

* Dân số:Theo số liệu Điều tra 53 dân tộc thiểu số 1/4/2019: Tổng dân số: 513.930 người. Trong đó, nam: 252.234 người; nữ: 261.696 người. Tỷ lệ dân số sống ở khu vực nông thôn: 89,5%.

* Ngôn ngữ:Gia-rai là một trong năm dân tộc thuộc nhóm ngôn ngữ Mã Lai-Đa Đảo và là một trong những dân tộc tại chỗ thuộc khu vực Tây Nguyên, Việt Nam.

3. Phân bố địa lý

Địa bàn cư trú của dân tộc Gia-rai ở Tây Nguyên chủ yếu tại tỉnh Gia Lai, phía tây tỉnh Phú Yên, phía nam tỉnh Kon Tum, và phía bắc tỉnh Đắk Lắk.

4. Đặc điểm chính:

Thực phẩm: Gạo tẻ là lương thực chính; lương thực phụ là ngô. Thức ăn có rau, muối, ớt, canh rau, lâu lâu mới có bữa thịt, cá. Bữa tiệc, lấy chén rượu cần làm trung tâm, quanh đó có các món ăn đựng trên bát, đĩa hoặc lá chuối để vừa ăn, vừa uống. Khi rượu ngà say có hát, nhảy múa, đánh chiêng.

5. Trang phục

Ðàn ông đóng khố vải trắng kẻ sọc nhiều màu (toai), ngày lễ đóng khố vải chàm dài 4m và rộng 0,30m, có đường viền hoa văn và buông tua chỉ nhiều màu ở hai đầu. Áo màu đen cộc tay, hở nách, đường viền hoa văn chỉ màu chạy dọc hai sườn mang đậm dấu vết kiểu pông-sô.

Về khố, tùy theo vùng tộc người Jrai ở Gia Lai mà đàn ông mặc khố khác nhau, chất liệu vải trang trí hoa văn khác nhau, ví như đi làm họ mặc khố ngắn bằng vải mộc hoặc nhuộm chàm không trang trí hoa văn, nhưng trong các dịp: tiếp khách, nhà có lễ, làng có hội, đi thăm bạn làng khác, đi chơi xa… thì họ lại chọn kiểu khố vạt dài có tua chỉ màu đen và đỏ, trên mặt khố trang trí hoa văn theo rìa dọc khố, đầu khố có đính thêm hạt cườm. Về áo của nam có hai loại, áo có tay và áo không tay.

Nghề phụ của các gia đình cộng đồng người Gia Rai thường là đan lát.
(Ảnh: Thành Đạt Báo Nhân Dân)

Pơtao hoặc chủ làng mặc áo chàm che kín mông, tay dài, chui đầu, có một mảng sợi màu đỏ làm khuy và khuyết cài từ cổ đến ngực. Dưới dải cúc là miếng vải đỏ hình vuông khâu đáp vào để làm dấu hiệu là áo. Ðàn bà mặc váy chàm (dài 1,4m x rộng 1m), có đường viền hoa văn chạy quanh gấu. Phần cạp có tua chỉ trắng hoặc màu. Váy không khâu liền thành ống nên khi mặc chỉ cuốn vào thân để chỗ giáp hai đầu về phía trước. Họ mặc áo cánh ngắn bó sát thân, dài tay. Trên cánh tay áo có chiếc được thêu những đường vòng hoa văn chỉ màu. Nơi ở quanh năm nóng nực nên cả nam lẫn nữ ưa thích cởi trần.

Ảnh: Cao Nguyên

Áo không tay của nam/nữ có nhiều điểm giống nhau, trên áo có đường hoa văn từ bả vai chạy dọc xuống hai bên sườn. May loại này đơn giản, vì với khổ vải hình chữ nhật, gập đôi lại, khoét cổ ở giữa đường gấp, khâu 2 mép sườn lại, để lại một đoạn dưới xẻ tà là xong chiếc áo. Áo dài tay, cách may cũng giống áo không tay nhưng được nối thêm hai ống tay áo; trên các đường bả vai, nách, cửa tay có trang trí  các đường viền màu sặc sỡ. Nếu là áo dài tay do các thủ lĩnh (Pơ tao) mặc thì trước ngực có trang trí thêm mảnh vải đỏ hay chỉ đỏ (gọi là ao brung blak).

Về mền choàng, mùa lạnh đàn ông Jrai  dùng thêm tấm mền choàng người hay bắt chéo trước ngực kiểu chiến binh với hai loại màu chính đen và trắng có chiều ngang chừng 2 mét, chiều dài hơn một chút, được trang trí các đường hoa văn ở đường mép vải, hai đường trang trí ở giữa mền. Ngoài những tấm mền cá nhân, theo lời người già thì ngày trước, người Jrai dệt những tấm mền lớn có thể choàng cho đông người, trang trí nhiều nét hoa văn đẹp, dùng trong lễ hội cộng đồng.

Trang phục nữ Jrai khá sắc sảo độc đáo vì nghề trồng bông, lanh, gai dệt vải của người Jrai phát triển sớm hơn các tộc người khác tại địa phương. màu nền và trang trí trên trang phục chị em chế biến từ nguồn nguyên liệu tự nhiên như vỏ cây tơ nung để lấy màu đỏ, lá cây chàm, vỏ cây băl, than củi, bẹ chuối… để tạo màu chàm, đen. Đây là nghề riêng của chị em nên họ thỏa sức sáng tạo và làm đẹp cho phái mình. Về váy, chị em Jrai thường ngày mặc váy chàm, hầu như không trang trí.  

Trong các lễ hội thì mặc váy đẹp hơn váy thường ngày vì có trang trí các hoa văn (váy hoa abenpnga). Vẻ đẹp đặc trưng của váy Jrai không phải là những dải hoa văn trang trí nơi hai đầu và chân váy, giữa thân váy mà là tấm vải đáp (bănh) có nhiều hoa văn ở vị trí phần mông của váy. Về áo thì có áo ngắn tay, dài tay, không tay theo thời tiết, dịp sinh hoạt cộng đồng; áo đều may kiểu chui đầu, cổ khoét cao, nút mở ở đường bờ vai, hoa văn trang trí chủ yếu ở phần chân gấu áo, hai cánh tay,  ngang ngực, hai vai và nách. Các hoa văn sử dụng đều rực rỡ sắc đỏ. Kèm trang phục là trang sức bằng vòng tay, vòng cổ, vòng chân bằng đồng, bạc, hạt cườm, dây vải. Về khăn, nam sử dụng loại khăn chít đầu màu chàm, khăn quấn quanh đầu dắt mối vào trong hoặc để xõa sau gáy; phụ nữ ít khi chít khăn, tóc búi gọn gàng sau gáy, trong các lễ hội họ thắt một dải băng dệt hoa văn tinh tế, đầu hai dải tua rua, thắt trên trán vòng cột sau gáy.

Có thể nói rằng, trang phục của người Jrai khá đơn giản với các kiểu choàng, quấn và áo chui đầu. Đây là loại hình trang phục vừa đặc trưng cho các dân tộc Đông Nam Á vừa tiêu biểu cho một giai đoạn phát triển sớm của y phục các dân tộc thiểu số vùng Tây Nguyên.

Nơi ở: Nhà sàn

Kiến trúc có hai loại: Nhà sàn dài kiểu la-yun-pa, dài 13,5m và rộng 3,5m là kích thước trung bình cho mỗi nhà. Nhà được phân thành hai phần: bên mang và bên óc. Cửa bên óc chỉ quay về hướng bắc và bên óc dành cho những người đàn bà – chủ gia đình mẫu hệ. Trong nhà có hai bếp.

Nhà nhỏ kiểu Hđrung với kích thước rộng 3m x dài 9m. Chiều cao từ đất lên đòn nóc không quá 4,5m. Cửa chính thông ra sàn phơi chỉ quay về hướng bắc. Hai bên cửa chính có hai cửa sổ. Trong nhà chỉ có một bếp.

Ma chay: Người Gia Rai theo tục tất cả người cùng họ mẹ chôn chung một huyệt. Người đàn ông chết phải khiêng về chôn ở huyệt phía mẹ mình. Trong huyệt chung ấy, các quan tài được xếp kề sát bên nhau theo chiều ngang rồi chồng lên theo chiều dọc. Khi quan tài cao bằng miệng huyệt thì lấy ván kê bốn bề để chôn tiếp vài ba lớp nữa mới làm lễ “bỏ mả” (Họa lui, Thi nga hay Bó thi) – một nghi thức lớn trong quá trình tang lễ.

Thờ cúng: Người Gia Rai theo vạn vật hữu linh. Thần linh (Yang) có nhiều loại, trong đó có ba loại nổi bật được nhắc đến trong lễ cúng hàng năm hay nhiều năm một lần:

  • Thần nhà (Yang sang) lực lượng bảo vệ nhà cửa được cúng trong nhà. Khi nhà mới dựng thì phải tiến hành nghi thức lễ đâm trâu và trồng cây gạo.
  • Thần làng (yang ala bôn) và thần nước (yang ia) là lực lượng bảo vệ làng xóm và cuộc sống của mọi thành viên được cúng ở bến nước và chân núi.
  • Thần vua (Yang pó tao) do vua lửa, vua nước, vua gió (ptao agin) tiến hành lễ cầu trời, mưa thuận, gió hoà và mùa màng tươi tốt.

Ngoài ra, người Gia Rai còn tin khi chết các linh hồn biến thành ma. Có hiện tượng gán cho người có ma thuật làm hại gọi là ma lai.

Văn hóa-văn nghệ: Người Gia Rai có nhiều trường ca như Ðăm San, Xinh Nhã, Ðăm Di… thể hiện dưới hình thức hát thơ có đệm đàn Tưng nưng. Những điệu vũ dân gian Gia Rai có một số động tác mô phỏng những cuộc chiến tranh giữa các bộ tộc. Ðàn Tơ rưng, Krông put, Tưng nưng… rất được phổ biến.

Nguồn: https://dantocmiennui.baotintuc.vn/ve-dep-trang-phuc-truyen-thong-dan-toc-jrai-post26477.html
https://nhandan.vn/dan-toc-gia-rai-post723906.html

Để lại một bình luận

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *